Category: Chưa được phân loại

DJ là gì? Công việc chính của một DJ

Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật từ âm thanh, nó trường tồn theo thời gian và phát triển mạnh mẽ theo xu hướng vận động của xã hội. Một trong những người tham gia vào lĩnh vực âm nhạc được gọi là DJ, họ giống như một nghệ sĩ, là mảng ghép cho bức tranh âm nhạc thêm nhiều màu sắc và trở nên hoàn hảo hơn. Vậy DJ là gì? Những tính chất đặc trưng của công việc này ra sao. Bài viết ngày hôm nay chúng ta cùng đi tìm hiểu điều đó.

DJ là gì?

Trong tiếng Anh cụm từ Disc Jockey được viết tắt là DJ, ám chỉ những nhân vật có nhiệm vụ lựa chọn ra các bản nhạc đã được ghi sẵn và phát ra bản nhạc đó cho đối tượng thính giả thưởng thức. Tuy nhiên, công việc của một DJ không chỉ đơn goản như vậy. Người làm DJ còn phải chỉnh sửa, biến tấu, điều chỉnh âm thanh sao cho phù hợp với môi trường, đối tượng thính giả. Chính vì thế mà người làm DJ không chỉ là người có hiểu biết về công nghệ, về các thiết bị âm thanh mà còn cần có âm hiểu về âm nhạc, có sự lĩnh hội âm nhạc tốt. Yêu cầu của một DJ hiện đại phải là người hiểu được nhạ lý, biết cách xướng âm. Một DJ thực thụ sẽ chỉ làm việc hiệu quả khi mà họ có sự sáng tạo, biết kết hợp âm thanh, bản nhạc lại với nhau.

Theo như nghiên cứu thì xuất xứ của nghề DJ là từ thập niên 50, khi mà âm nhạc dần phát triển mạnh hơn, và ngồn gốc của nó bắt đầu từ người dân Jamaica. Tuy nhiên, sự nở rộ và phát triển mạnh mẽ của nghề này đến tận thập niên 60, khi du nhaoaj vào Mỹ mới có cơ hội lớn nhất. TRước đây, công việc của một DJ vẫn còn là sự tranh cãi của rất nhiều chuyên gia, khi mà có một số ý kiến cho rằng DJ là người chơi nhạc nền ở các sàn nhảy, nếu như thế thì nó phải có nguồn gốc từ thập niên 30 của thế kỷ trước đó. Tuy nhiên, một số ý kiến trái chiều lại cho rằng DJ lại là nhân viên, là những người làm việc cho đài phát thanh và công việc chính của họ là chọn lọc các bản nhạc đã được thu sẵn và phát trên đài trong thờ điêm rnaof đó, đương nhiên bản nhạc phải có sự thích hợp với điều kiện xã hội lúc bấy giờ.

Còn đến ngày nay, quá rõ ràng để chúng ta nhận biết một DJ chuyên nghiệp. Họ vẫn làm tất cả những công việc mà như nghiên cứu đã chỉ ra trên đó. Thế nhưng, công việc của họ đổi mới hơn, nâng cao hơn. Họ không chỉ là người cầm đĩa đưa vào máy để phát mà họ còn là người tinh chỉnh, hòa phối, kết hợp các bản nhạc. Trong máu họ là sự đam mê, tình yêu cũng như kiến thức âm nhạc không hề nhỏ. Chúng ta có thể nhìn thấy được các DJ tại vũ trường, quán Bar, những quán Cà phê âm nhạc hay trong lễ hội âm nhạc nào đó.

Nhiệm vụ của một DJ

Như đã nói ở trêm khi tìm hiểu về khái niệm DJ là gì có lẽ tất cả chúng ta đã phần nào mường tượng ra được nhiệm vụ của họ khi bắt tay vào làm việc. DJ có nhiệm vụ rất lớn đó làm làm cho không khí của quán Bar, vũ trường thêm sôi động, náo nhiệt. Bằng các kiến thức âm nhạc, sự hiểu biết về âm nhạc mà người làm DJ sẽ trộn các bản nhạc lại với nhau để tăng cường sức hấp dẫn, làm cho không khí thêm sôi nổi, kích thích mạnh mẽ vào tâm trạng làm cho thính giả thêm hào hứng. Có thể nói, nghề DJ là một trong những nghề có sự tự do, tính sáng tạo và rất phóng khoáng nên nghề này được đánh giá cao và có nhiều người yêu thích, đặc biệt là giới trẻ.

Có thể không ít người khi nhìn bên ngoài sẽ cho rằng DJ là một nghề khá nhàn hạ, dễ làm. Chỉ cần đưa đĩa vào máy, chỉnh tần số, chỉnh âm lượng lên xuống là được. Thậm chí họ còn được trả tiền công rất lớn chỉ để ngồi hưởng thụ âm nhạc, chung vui với đám đông mà thôi. Nhưng thực tế không phải như vậy, nghề nghiệp nào cũng có những đòi hỏi nhất định của nó. Nếu như bạn muốn làm giáo viên thì bạn cần phải trải qua một quá trình học tập, rèn luyện trong môi trường sư phạm. Không chỉ tích lũy kiến thức mà còn phải rèn luyện đạo đức, đủ điều kiện ra trường mới có thể bước chân lên giảng đường. Đối với nghề DJ cũng vậy. Không phải ngẫu nhiên mà họ có thể làm được công việc đó, đương nhiên không phỉa ai cũng biết cách làm công việc này mà không cần trải qua sự luyện tập gian khó, vất vả. Làm nghề DJ khoog chỉ cần học để có kiến thức mà nó còn cần cả năng khiếu nữa.

Để có thể điều chỉnh âm nhạc, kết hợp âm thanh thì người làm DJ cần thành thạo các thao tác như là chơi nhạc, xoay đĩa, điều chỉnh âm lượng. Bằng cách đảo, cắt, xoay hướng, chuyển đoạn, quay ngược đoạn nhạc mà người DJ sẽ tạo nên một không khí âm nhạc vô cùng sôi nổi, hoành tráng, kích thích được sự hưng phấn từ thính giả. Mỗi một DJ sẽ có một màu sắc và cách chơi khác nhau. Điều này bắt nguồn từ việc các DJ có sự cảm thụ âm nhạc riêng biệt, có cái gu về âm nhạc cũng khác nhau hoàn toàn.

Vai trò của âm nhạc đối với cuộc sống

Âm nhạc phải có rất nhiều vai trò quan terongj đối với cuộc sống, chính bởi thế mà nghề DJ mới có cơ hội phát triển như hiện nay. Đối với trẻ nhỏ thì âm nhạc như là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, tâm tư tình cảm của trẻ. Rất nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, trẻ em khi còn trong bụng mẹ hay khi mới sinh ra nếu được nghe âm nhạc, các bản nhạc trữ tình về quê hương đất nước, về gia đình thì khi chúng phát triển sẽ giàu cảm xúc hơn, có lòng yêu thương con người. Chính vì thế mà không ít bà mẹ đã tự cho con mình nghe nhạc khi còn đang mang thai, dùng âm nhạc để làm tiếng ru cho con ngủ,…Tên, cần lưu ý chọn đúng thể loại nhạc, cho trẻ nghe ở mức độ âm lượng phù hợp nhất, cũng không nên lạm dụng cho trẻ nghe nhạc quá nhiều gây ảnh hưởng tới thính giác.

Đối với người lớn thì âm nhạc cũng góp không ít công sức khi mà nó có thể làm cho đời sống tinh thần của chúng ta tốt hơn. Mỗi khi bạn buồn phiền, mệt mỏi hay gặp các áp lực trong cuộc sống thì việc đọc sách, nghe nhạc sẽ khiến bạn bình tam trở lại, có được những suy nghĩ tích cực hơn. Âm nhạc giúp con người ta nói lên mọi cảm xúc, tâm tư tình cảm và có thể làm lay động hàng triệu trái tim con người chỉ với vài âm điệu đơn giản.

Chúng ta phải thừa nhận với nhau rằng, khả năng kết nối con người với con người thông qua âm nhạc vô cùng hiệu quả. Hiện nay, trên các trang mạng xã hội có rất nhiều nhóm hội yêu âm nhạc, hay yêu một dòng nhạc nào đó, nhóm người đam mê nghề DJ chẳng hạn. Họ cùng tham gia, trao đổi, giao lưu với nhau. Sự kết nối duy nhất của họ là tình yêu, niềm đam mê vào một lĩnh vực nào đó của âm nhạc. Như vậy, sự kết nối trở nên thật dễ dàng, người xa lạ bỗng trở nên thân quen hơn.

Nhu vậy, chúng ta có thể hiểu được rằng DJ là gì và nghề DJ này có những đặc trưng như thế nào. Một DJ chuyên nghiệp họ cần phải trải qua rất nhiều gian khổ mới thành tài và họ cũng đánh đổi không ít thứ để heo đuổi đam mê của mình. Cũng qua bài viết này mà chúng ta hiểu hơn giá trị âm nhạc, vai trò của nó đối với đời sống con người. Nếu bạn yêu âm nhạc, muốn trở thành một DJ hãy học tập thật nghiều, nghe nhạc thường xuyên và học cách cảm thụ âm nhạc từ hôm nay nhé.

Forex là gì? Những đặc điểm của thị trường ngoại hối

Ngoại hối là một khái niệm mà chúng ta thường bắt gặp, nhất là trong việc kinh doanh, trao đổi tiền tệ. Thị trường ngoại hối có tính phân quyền và tại đây có sự giao dịch của các loại ngoại tệ thế giới. Những nhà đầu tư sẽ kiếm lời bằng việc trao đổi tiền và sử dụng khoản tiền chênh lệch, tỷ giá thay đổi giữa loại tiền này tiền kia của một quốc gia khác. Nếu như bạn chưa biết ngoại hối là gì thì bài viết ngày hôm nay sẽ giúp các bạn hiểu hơn về điều đó cũng như những đặc tính của thị trường ngoại hối.

Lịch sử thị trường Forex

Có hai sự kiện vô cùng quan trọng đánh dấu sự hình thành của thị trường ngoại hối đó là việc đưa vào sử dụng bản vị vàng và sự kiện chuyển sang hệ thống Bretton Woods.

Vào năm 1875 bản vị vàng lần đầu tiên được con người sử dụng. Chế độ  bản vàng đã mang đến nhiều sự thay đổi trên thị trường tiền tệ. Mục đích của chúng ta khi đưa chế độ bản vị vàng vào trong cuộc sống là để gắn đồng tiền của từng Quốc gia vào vàng. Các quốc gia sẽ lần lượt đưa ra những tiêu chuẩn, mỗi một lượng vàng sẽ được quy đổi tương đương với một đồng tiền.

Như vậy khi người ta muốn quy đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác thì chỉ cần căn cứ vào tỉ lệ khối lượng vàng là được. Vàng được coi là cầu nối để quy đổi tất cả các loại tiền với nhau và tỷ giá quy đổi cũng từ đó được xuất hiện, hình thành. Có thể nói rằng trong lịch sử con người thì việc đưa bản vị vàng vào trong trao đổi tiền tệ là phương thức quản trị đầu tiên đối với lĩnh vực này. Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng đã sớm bị chấm dứt vào thế chiến thứ nhất, khi mà một số chính sách kinh tế xuất hiện trong khi đó bản vị vàng lại là rào cản khiến họ không thể phát triển được kinh tế.

Thị trường ngoại hối ( Thị trường forex) được hiểu là một thị trường mở, có sự tập trung toàn cầu khi mà ở đây tất cả các loại tiền của nhiều quốc gia khác nhau sẽ được trao đổi và mua bán. Sẽ không có một sàn giao dịch riêng biệt nào hết. Thế nhưng, các bên giao dịch sẽ thực hiện quy củ, thống nhất cho một dạng hợp đồng điện tử. Nó còn được gọi là ngoài sàn. Một điều đặc biệt đó là các giao dịch trên thị trường ngoại hối thường diễn ra một cách tức thời và chúng không bao giờ ngừng nghỉ.

Tỷ giá của ngoại tệ sẽ có sự thay đổi liên tục theo thời gian, thường thì thời gian đó rất ngắn, thậm chí là trong ngày. Có thể nói rằng, thị trường ngoại hối là một thị trường duy nhất hoạt động liên tục không ngừng nghỉ. Có rất nhiều sàn giao dịch lớn trên thế giới khóa nổi tiếng và uy tín như là Tokyo, New York, Hồng Kông, Zurich, Luân Đôn, Paris… Điều này chứng tỏ rằng thị trường ngoại hối luôn luôn phát triển và không có dấu hiệu dừng lại. Chúng sẽ được mở rộng hơn khi mà tất cả các quốc gia trên toàn cầu đều tham gia giao dịch. Sở dĩ thị trường ngoại hối hoạt động liên tục bởi vì khi sàn giao dịch này đóng cửa thì sẽ có sàn giao dịch khác mở cửa. Cùng với đó là sự chênh lệch về múi giờ của các nước.

Thị trường ngoại hối cho phép rất nhiều đối tượng tham gia, những đối tượng đó có thể còn được gọi là người chơi Forex. Họ tham gia giao dịch tiền tệ với các mục đích khác nhau nhưng sẽ luôn phải tuân thủ quy định đã đề ra. Và chính sự đối lập riêng biệt đó đã tạo nên sự ổn định cho thị trường ngoại hối, những thành viên chính của thị trường Forex bao gồm các nhà đầu cơ, các công ty broker, các chính phủ và ngân hàng Trung ương, tổ chức hedge, các ngân hàng thương mại và công ty các nhà đầu tư.

Forex là gì?

Forex hay còn được gọi là ngoại hối, đó là sự trao đổi tiền tệ của nhiều quốc gia trên thị trường tài chính. Thị trường forex xuất hiện đầu tiên vào năm 1976 khi mà tiêu chuẩn vàng đã được đề ra. Người ta sẽ gắn đồng tiền với vàng và lấy đó làm cơ sở để trao đổi. Mục đích ban đầu của Forex chỉ là hỗ trợ con người trao đổi tiền tệ của quốc gia này với quốc gia khác hay còn gọi một cách đơn giản là trao đổi ngoại tệ. Nhưng theo thời gian cũng như mục đích của con người mà người ta đã sử dụng hoạt động này nhằm kiếm lợi nhuận bằng việc trao đổi tiền để hưởng sự chênh lệch giá trị của mỗi loại đồng tiền. Có thể làm như vậy bởi vì giá trị đồng tiền của mỗi một quốc gia khác nhau và có sự thay đổi trên lệch theo thời gian.

Một trong những cách bảo toàn vốn và tăng lợi nhuận của người đầu tư đó là tham gia vào giao dịch hối đoái tại sàn Forex. Có khoảng 4.500 tổ chức giao dịch tiền tệ và nó tạo thành Forex. Đó là các ngân hàng quốc tế, các công ty Thương mại và các ngân hàng trung tâm. Khi bạn thực hiện việc xuất nhập khẩu thì quá trình chi trả phải thông qua việc trao đổi ngoại tệ này, thậm chí việc mua bán tài sản cũng vậy. Hàng hóa chính của thị trường Forex chính là tiền và điều đặc biệt của thị trường Forex đó là nó sẽ không có một trung tâm giao dịch chính thức nào cả.

Như vậy chúng ta đã hiểu Forex là gì cũng như những đặc tính của thị trường ngoại hối. Thực chất Forex là hoạt động trao đổi tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác. Thị trường Forex sẽ không bao giờ ngừng nghỉ và nó là thị trường mở cho phép nhiều cá nhân, tổ chức tham gia dễ dàng.

Concept là gì? Sự khác biệt của Selling Concept và Marketing Concept

Trong hoạt động Marketing chúng ta thường bắt gặp thuật ngữ Concept. Thế nhưng không phải ai cũng hiểu Concept là gì và sự khác biệt giữa Marketing Concept và Selling Concept như thế nào. Bài viết ngày hôm nay chúng tôi sẽ giải thích cho bạn rõ ràng về khái niệm Concept cũng như các vấn đề liên quan tới khái niệm này.

Concept là gì?

Concept là một thuật ngữ rất phổ biến và sử dụng ở nhiều nơi, nhất là trong hoạt động kinh doanh, hoạt động marketing thì khái niệm Concept còn được sử dụng xuyên suốt từ nội dung cho tới hình thức của chương trình này. Chúng ta có thể hiểu đơn giản Concept đã tạo nên một mục tiêu cũng như sự thống nhất liên hoàn cho một doanh nghiệp khi mà họ thực hiện chiến dịch marketing cho mình.

Concept sẽ có một đặc trưng riêng biệt và khác nhau hoàn toàn trong mỗi lĩnh vực. Ví dụ như với dịch vụ khách sạn, nhà hàng thì Concept sẽ là chụp ảnh. Mô phỏng hình ảnh, phong cách của nhà hàng, khách sạn đó. Nó sẽ làm toát lên bố cục, sự phóng khoáng, thiết kế trong nội dung của buổi chụp ảnh. Đối với ngành công nghiệp giải trí thì Concept lại khác biệt hoàn toàn khi nó mang một ý nghĩa là thiết kế ý tưởng, thiết kế ở đây có thể nói về sân khấu, về những ý tưởng thực hiện sự kiện độc đáo, ý tưởng trang trí, thiết kế hay quà tặng.

Trong hoạt động quảng cáo, Marketing thì Concept là nội dung chính và nó còn được coi là linh hồn của một chương trình nào đó, một TVC quảng cáo. Concept sẽ được xuất phát bắt nguồn từ nhu cầu của khách hàng và đó là một việc làm không thể thiếu khi bạn muốn xây dựng thương hiệu cho mình. Nói tóm lại thì Concept sẽ là mục tiêu, là định hướng chung của một quá trình marketing trong một doanh nghiệp. Một Concept sẽ có thể có rất nhiều sự đóng góp ý kiến và ý tưởng.

Sự khác nhau giữa Selling Concept và Marketing Concept

Trong marketing sẽ có hai thuật ngữ marketing Concept và Selling Concept. Vậy hai thuật ngữ này khác nhau như thế nào, hoạt động của chúng có những đặc trưng gì.

  1. Selling Concept

Đối với Selling Concept thì mục tiêu chính của nó sẽ là bán các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bằng cách thuyết phục khách hàng mua sản phẩm của mình. Mục tiêu chính của Selling Concept chính là bán sản phẩm nên sẽ không quan tâm tới nhu cầu của thị trường ra sao và cũng không đề cao vấn đề xây dựng mối quan hệ đối với khách hàng. Nó chỉ chú trọng vào việc bán sao cho được nhiều sản phẩm, dịch vụ nhất, tăng doanh số. Chiến dịch Selling Concept thì chỉ có giá trị tức thời và ngắn hạn đối với doanh nghiệp đó mà thôi. Khách hàng của bạn thường là khách hàng qua đường, khi mà bạn không xây dựng được mối quan hệ thân thiết, không biến họ trở thành khách hàng quen thuộc. Đôi khi sản phẩm, dịch vụ của bạn chỉ đến tay của khách hàng một lần và họ không biết tới thương hiệu của bạn họ cũng không có ý định sẽ tìm hiểu hay tiếp tục sử dụng các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp bạn đưa ra.

  1. Marketing Concept

Marketing Concept thì lại khác biệt hoàn toàn khi mà nó sửa chữa, khắc phục mọi hạn chế của hoạt động Selling Concept.  Marketing Concept hướng tới mục tiêu dài hạn hơn đó là sẽ tạo dựng những ý tưởng hình thức, nội dung marketing có tính chiến lược lâu dài để hướng tới khách hàng, đáp ứng được tất cả những nhu cầu mà khách hàng mong muốn, tác động vào nhận thức của họ để họ có cái nhìn và có tư duy về doanh nghiệp mà chúng ta đang thực hiện chiến dịch marketing.

Mục đích của việc Marketing Concept đó chính là tiếp cận với khách hàng, thay đổi tư duy, suy nghĩ của họ về sản phẩm, dịch vụ của mình, thúc đẩy cho việc bán hàng trở nên dễ dàng.  Marketing Concept, hoạt động này sẽ mang tất cả những thông tin giá trị về sản phẩm, dịch vụ hướng tới khách hàng. Mục tiêu để họ có cái nhìn thiện chí hơn, khi đã có được thiện cảm đối với doanh nghiệp, thương hiệu đó thì nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của họ cũng tăng lên, việc bạn bán hàng tiếp thị sản phẩm trở nên dễ dàng.

Lợi thế của Marketing Concept đó chính là việc tiếp cận được khách hàng và biến họ trở nên thân thiết với mình. Mục tiêu dài hạn nằm ở việc khách hàng sẽ không chỉ một lần sử dụng mà sẽ có nhiều lần khác tìm đến thương hiệu của công ty, doanh nghiệp đó hơn. Sử dụng nhiều hơn những sản phẩm, dịch vụ biến sản phẩm thành tiền hoặc đáp ứng được lợi nhuận cũng như thu hồi vốn cho doanh nghiệp.

Trong hoạt động kinh doanh hiện nay cần phải có những chiến lược khuyến khích khách hàng, nắm bắt được thông tin thị trường cũng như nhu cầu của người sử dụng mà đáp ứng. Sự cạnh tranh khốc liệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp kia chính là nhiều mà thúc đẩy chúng ta phát triển mạnh hơn, hoàn thiện bản thân mình. Một trong số những việc làm không thể thiếu của hoạt động kinh doanh đó chính là thực hiện chiến lược marketing. Như đã nói ở trên hai hình thức marketing đó có thể đem lại hiệu quả nhưng quá trình sử dụng cũng như mục đích lâu dài hay ngắn hạn là khác nhau. Đối với Marketing Concept thì bạn có thể mất nhiều thời gian để thực hiện, đầu tư nhiều hơn nhưng hiệu quả lại đạt được trong suốt thời gian dài, xây dựng được thương hiệu ổn định, bền vững.

Như vậy chúng ta đã hiểu được Concept là gì và hoạt động này có ý nghĩa như thế nào trong marketing. Đồng thời bạn cũng đã so sánh phân biệt được thế nào là Selling Concept và Marketing Concept, hi vọng rằng bài viết trên sẽ giúp ích cho bạn trong hoạt động kinh doanh của mình.

FDI là gì? Vai trò của nó đối với hoạt động kinh tế xã hội

Trong hoạt động kinh doanh, chúng ta thường nghe tới thuật ngữ vốn đầu tư FDI. Đây là một hình thức đầu tư dài hạn của một công ty nước này vào nước khác hay của cá nhân bằng cách sẽ hình thành những cơ sở sản xuất, kinh doanh cụ thể. Và người đầu tư là những cá nhân hay công ty nước ngoài sẽ là người nắm quyền quản lý cao nhất tất cả các cơ sở, vật chất của hoạt động kinh doanh nói trên này. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu kỹ lưỡng hơn về khái niệm FDI là gì, tại sao lại có nguồn vốn này.

FDI là gì?

Chắc chắn rằng rất nhiều người thắc mắc FDI là gì, nguồn vốn là bắt nguồn từ đâu và chúng có bản chất như thế nào. Có thể nói rằng, FDI chính là nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào một nước khác do một công ty hay cá nhân, tổ chức nào đó. Mục đích của họ là để xây dựng một hệ thống kinh doanh, sản xuất và người nắm quyền cao nhất chính là những công ty, cá nhân, tổ chức đã đầu tư nguồn vốn đó.

Đây là một trong những hình thức đầu tư dài hạn, có quy định rõ ràng, rằng buộc lẫn nhau để thúc đẩy cho việc kinh doanh diễn ra thuận tiện, thu về nguồn lợi nhuận lớn và đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia.  Mặc dù ra đời muộn hơn rất nhiều so với một số hoạt động kinh tế đối ngoại trên thị trường hiện nay, thế nhưng nó lại sớm có được quyền năng và vị trí của mình. Trong tất cả các mối quan hệ kinh tế quốc tế và cũng chính vì thế mà FDI đi nhanh chóng trở thành một hoạt động không thể thiếu của nền kinh tế hiện đại, là một xu thế tất yếu phải xảy ra của lịch sử. Không chỉ những nước đang phát triển mà tất cả các nước đã phát triển cũng đều cần phải có nguồn vốn FDI để thúc đẩy sự phát triển kinh tế mạnh mẽ hơn.

Khi nói tới bản chất của FDI, chúng ta có thể hiểu đơn giản rằng nó là sự kết hợp giữa quyền sở hữu của các nguồn vốn,  FDI được đưa ra để đầu tư cùng với quyền quản lý của cá nhân, công ty đó đối với hoạt động kinh doanh. Đương nhiên là có kèm theo quyền quản lý chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường bao gồm cả các công ty đa quốc gia. Vốn FDI luôn luôn gắn liền với sự phát triển thương mại quốc tế và thị trường tài chính quốc tế.

Vai trò của FDI trong nền kinh tế xã hội

Sự ra đời của bất kỳ một sự vật, hiện tượng hay một vấn đề nào đó đều có một ý nghĩa riêng biệt của nó. Trong hoạt động kinh doanh thì sự xuất hiện của nguồn vốn FDI, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài rất quan trọng. Đương nhiên có mặt tích cực thì cũng sẽ còn tồn tại những mặt hạn chế. Ngay sau đây chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu sự tác động tích cực và tiêu cực của nguồn vốn FDI đến với hoạt động kinh tế của xã hội hiện nay.

  1. Đối với nước đầu tư ( Nước chủ nhà)

Chúng ta chia ra nước đầu tư là nước bỏ nguồn vốn ra để đầu tư vào một quốc gia khác, nước nhận đầu tư là nước sẽ tiếp nhận nguồn vốn đầu tư từ quốc gia khác vào đất nước mình. Đối với nước chủ nhà thì nguồn vốn FDI có rất nhiều vai trò tác động tích cực.

Vì là người sẽ đưa ra nguồn vốn và trực tiếp tiếp nhận quản lý hoạt động kinh doanh, thế nên các cá nhân, công ty bỏ nguồn đầu tư ra sẽ là người đưa ra tất cả các quyết định để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho mình. Họ làm như vậy còn là giúp cho thị trường sẽ được mở rộng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể gia tăng lợi nhuận. Bằng cách tiêu thụ sản phẩm thiết bị công nghệ trong phạm vi khu vực lãnh thổ mà họ đã đều tư. Đồng thời tiêu thụ mở rộng thị trường ra toàn cầu.

Thường thì những nước chủ nhà sẽ bỏ vốn đầu tư vào những quốc gia có giá thành thuê lao động khá rẻ, có tiềm năng phát triển, giàu có về tài nguyên. Chính vì thế mà họ tiết kiệm được những khoản tiền trả cho nhân lực lao động, có được thị trường tiêu thụ rộng lớn, nguồn tài nguyên phong phú phục vụ cho hoạt động sản xuấtn kinh doanh. Nhờ đó mà nâng cao được chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình, đồng thời giảm đi giá thành của chúng.

Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều tác động tiêu cực của nguồn vốn FDI đối với nước chủ nhà. Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản rằng, khi bạn có tiền trong túi nhưng bạn lại đi cho người khác vay, đầu tư cho người khác tiến hành kinh doanh, sản xuất thì bản thân bạn sẽ mất đi một khoản vốn để đầu tư cho chính bản thân mình. Đối với vốn FDI cũng vậy, khi nguồn vốn FDI được huy động để đầu tư cho một quốc gia khác thì đương nhiên Quốc gia chủ nhà sẽ mất đi một khoản đầu tư để phục vụ cho hoạt động kinh tế của mình. Nếu như việc sử dụng nguồn vốn FDI trở nên lạm dụng, không phù hợp không đúng với điều kiện phát triển kinh tế xã hội thì sẽ dẫn tới thất tình trạng như suy thoái kinh tế trong,  lao động thiếu việc làm. Có lẽ vì thế mà dường như không hề có chính sách nào khuyến khích việc người ta đầu tư nguồn vốn ra nước ngoài.

Việc đầu tư ra nước ngoài còn gặp khá nhiều khó khăn khi mà phải đối mặt với những nguy cơ xung đột vũ trang, các vấn đề liên quan tới chính trị. Song song với đó là sự khác biệt nhau trong pháp luật, quy định của nhà nước. Đặc biệt là trong luật kinh doanh. Nếu muốn đầu tư, cá nhân, công ty đó cần phải tìm hiểu thật kỹ lưỡng mọi yếu tố khách quan và chủ quan, có sự tính toán khoa học để tránh các hệ quả đáng tiếc sau này.

  1. Đối với nước nhận đầu tư

Còn đối với nước nhận đầu tư thì hoạt động FDI cũng là một trong những lợi thế của họ. Họ sẽ có thêm một nguồn vốn để phát triển kinh tế đất nước, mở rộng sản xuất, kinh doanh và đương nhiên lúc này lực lượng lao động sẽ có thêm việc làm, có thêm nguồn thu nhập. Thường thì vốn đầu tư từ nước ngoài khá cao, bởi vậy giải quyết được mọi khó khăn trong khâu tài chính của các công ty, doanh nghiệp.

Với nguồn vốn được đầu tư đó, nước nhận đầu tư có đủ khả năng để khai thác triệt để các tài nguyên thiên nhiên của mình, bảo vệ môi trường, thúc đẩy nhiều ngành nghề mới phát triển. Bằng việc hợp tác với nước ngoài thì việc chuyển giao công nghệ và tiếp thu những công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất và trong hoạt động kinh doanh, sản xuất là điều tất yếu và vô cùng thuận lợi.

Mặc dù vậy những nước tiếp nhận nguồn vốn FDI vẫn còn rất e ngại khi mà có quá nhiều cá nhân, tổ chức đầu tư vào hoạt động sản xuất trong nước. Điều đó khiến cho nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, việc xử lý chất thải không tốt làm ảnh hưởng tới môi trường và tính chất của nền kinh tế có thể bị thay đổi theo do ảnh hưởng của nền kinh tế nước chủ nhà.

Thông qua bài viết trên, chúng ta đã hiểu vốn FDI là gì, nguồn vốn nước ngoài này có những tác động tích cực và tiêu cực ra sao. Để tận dụng thế mạnh của nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, chúng ta cần phải cân nhắc kỹ lưỡng khi lựa chọn nhà đầu tư, lựa chọn lĩnh vực hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng như quy mô để tránh gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế vốn có của đất nước.